Cơ chế hình thành độ bền của chất dính thủy tinh lỏng mô đun cao dùng trong ngành đúc
Nghiên cứu này sẽ trình bày cơ chế đóng rắn của chất dính thủy tinh lỏng mô đun cao (mô đun lớn hơn 3) thông qua các phương pháp phân tích tổ chức bằng hiển vi điện tử quét, phổ nguyên tố và xác định thời gian tạo gel phù hợp.
The strengthening mechanism of sodium silicate binder with high ratio of SiO2/Na2O used in foundry
ĐỖ VĂN QUẢNG*, ĐÀO HỒNG BÁCH, VÀ ĐINH QUẢNG NĂNG Viện Khoa học và Kỹ thuật vật liệu, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Số 1 Đại Cồ Việt, Hà Nội *Email: quang.dovan@hust.edu.vn
Ngày nhận bài: 18/2/2018, Ngày duyệt đăng: 24/3/2018
TÓM TẮT
Quá trình hình thành độ bền của của chất dính thủy tinh lỏng mô đun trung bình đã được nghiên cứu rộng rãi cả trong và ngoài nước, đó là cơ chế đóng rắn và sự hình thành độ bền của chất dính thủy tinh lỏng có mô đun nhỏ hơn 3. Nghiên cứu này sẽ trình bày cơ chế đóng rắn của chất dính thủy tinh lỏng mô đun cao (mô đun lớn hơn 3) thông qua các phương pháp phân tích tổ chức bằng hiển vi điện tử quét, phổ nguyên tố và xác định thời gian tạo gel phù hợp. Từ khóa: Thủy tinh lỏng, mô đun cao, SiO2/Na2O, cơ chế đóng rắnABSTRACT
The strengthening of sand mold with sodium silicate as a binder is investgated so much on the world, but just for ratio of SiO2/Na2O below value 3. This research will focus on hardening mechanism of sodium silicate binder which has a ratio of SiO2/Na2O about 3, 4 and 5 through SEM, EDS and a suitable gelling time. Keywords: sodium silicate, high ratio, SiO2/Na2O, hardning mechanism 1. GIỚI THIỆU Chất dính thủy tinh lỏng được dùng khá phổ biến ở nước ta trong ngành đúc bao gồm cả trong công nghệ đúc khuôn cát nước thủy tinh đóng rắn bằng CO2 và trong công nghệ đúc mẫy chảy. Trong công nghệ đúc khuôn cát nước thủy tinh và đóng rắn bằng CO2 thì mô đun của thủy tinh lỏng khá thấp trong khoảng từ 2,1 - 2,8. Với mô đun này thì lại không phù hợp để sử dụng trong công nghệ đúc mẫu chảy. Trong công nghệ đúc mẫu chảy, người ta phải chọn loại chất dính thủy tinh lỏng có mô đun từ 3 trở lên. Với mô đun nhỏ hơn, khuôn gốm dễ bị nứt sau nung, độ xốp không đủ để đảm bảo cho sự thoát khí trong khuôn. Các nghiên cứu của nhóm tác giả về các tính chất của khuôn gốm sử dụng chất dính thủy tinh lỏng mô đun cao dùng trong ngành đúc đã được công bố [1-5]. Tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có một nghiên cứu cơ bản nào đề cập tới cơ chế hình thành độ bền của chất dính thủy tinh lỏng mô đun cao được công bố ở nước ta. Trên thế giới đã có nghiên cứu của Owusu [6] đã công bố từ năm 1982 với những nghiên cứu gợi mở về sự hình thành độ bền của khuôn cát sử dụng chất dính thủy tinh lỏng mô đun nhỏ hơn 3. Do đó, trong nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích và đánh giá nhằm xác định cơ chế đóng rắn của chất dính thủy tinh lỏng mô đun lớn hơn 3 (3, 4 và 5) dùng trong ngành đúc. 2. THỰC NGHIỆM Quy trình thực nghiệm được trình bày ở hình 1, thành phần pha trộn cụ thể ở bảng 1. Đầu tiên, thủy tinh lỏng, keo silic và nước được pha trộn trong bình thủy tinh theo tỷ lệ để có được mô đun thủy tinh lỏng mong muốn. Sau đó khuấy đảo liên tục trong khoảng nhiệt độ (50 - 60) oC. Sau khi kết tủa được đánh tan và đạt được dạng chất lỏng đồng nhất (khoảng 30 phút) thì ngừng khuấy đảo và để trong vòng một giờ mà không có hiện tượng sa lắng hay kết tủa là thu được thủy tinh lỏng có mô đun theo yêu cầu. Đo thời gian tạo gel được tiến hành như sau: cho chất dính thủy tinh lỏng có mô đun khác nhau trộn đều với chất tạo gel NH4Cl 25 % (10 % khối lượng chất dính), sau đó đổ lên mặt kính và tính thời gian. Thời gian tạo gel được xác định khi có lớp màng trên bề mặt chất dính xuất hiện. [caption id="attachment_2289" align="aligncenter" width="400"]
Hình 1. Sơ đồ thực nghiệm chế tạo thủy tinh lỏng mô đun cao[/caption]
Bảng 1. Thành phần pha trộn 100 g thủy tinh lỏng mô đun cao
| Mô đun | Thủy tinh lỏng (g) | Keo silic (g) | Nước (ml) |
| 3,0 | 100 | 0 | 0 |
| 4,0 | 73,08 | 26,92 | 40 |
| 5,0 | 57,41 | 42,59 | 64 |
Hình 2. Ảnh SEM của khuôn cát - thủy tinh lỏng có mô đun bằng 3: độ phóng đại thấp, x197 (a) và độ phóng đại cao, x10590 (b)[/caption]
[caption id="attachment_2287" align="aligncenter" width="300"]
Hình 3. Phổ EDS 1 tại hình 2[/caption]
[caption id="attachment_2286" align="aligncenter" width="300"]
Hình 4. Phổ EDS 2 tại hình 2[/caption]
[caption id="attachment_2285" align="aligncenter" width="300"]
Hình 5. Ảnh SEM của khuôn cát - thủy tinh lỏng có mô đun bằng 4: độ phóng đại thấp, x400 (a) và độ phóng đại cao, x2013 (b)[/caption]
Hình 5 trình bày ảnh SEM của hỗn hợp khuôn cát thạch anh - thủy tinh lỏng có mô đun bằng 4. Ở độ phóng đại thấp (hình 5a), khá nhiều vết nứt tế vi trên màng chất dính đã quan sát được. Ở độ phóng đại cao (hình 5b), các hạt natri silicát (EDS 2 - hình 6) có sự phát triển khá lớn về kích thước trên nền gel silic (EDS 1 - hình 7). Kích thước của các hạt natri silicát nằm trong khoảng (3 - 5) µm.
[caption id="attachment_2284" align="aligncenter" width="300"]
Hình 6. Phổ EDS 1 tại hình 5[/caption]
[caption id="attachment_2283" align="aligncenter" width="300"]
Hình 7. Phổ EDS 2 tại hình 5[/caption]
Hình 8 trình bày ảnh SEM của hỗn hợp cát - nước thủy tinh có mô đun bằng 5, màng chất dính quan sát thấy là khá rời rạc, đặc biệt là quan sát ở độ phóng đại cao như được trình bày ở hình 8b. Khá nhiều vết nứt to đã quan sát được ở trên hình 8a. Đặc biệt, các hạt natri silicát ở mô đun 5 (EDS 2 - hình 10) cũng có kích thước to hơn các mô đun 4 và 3, kích thước các hạt này khoảng (5 - 7) µm. Các hạt natri silicát này nằm rời rạc trên nền gel silic (EDS 1 - hình 9), và chúng bao phủ gần như kín hoàn toàn nền gel silic.
Kết quả phân tích thời gian tạo gel của chất dính thủy tinh lỏng phụ thuộc vào mô đun thủy tinh lỏng được trình bày ở bảng 2 cho thấy: mô đun
[caption id="attachment_2282" align="aligncenter" width="611"]
Hình 8. Ảnh SEM của khuôn cát - thủy tinh lỏng có mô đun bằng 5: độ phóng đại thấp, x208 (a) và độ phóng đại cao, x3084 (b)[/caption]
[caption id="attachment_2281" align="aligncenter" width="300"]
Hình 9. Phổ EDS 1 tại hình 8[/caption]
[caption id="attachment_2280" align="aligncenter" width="300"]
Hình 10. Phổ EDS 2 tại hình 8[/caption]
càng cao thì thời gian tạo gel càng ngắn. Ở thủy tinh lỏng mô đun bằng 3 có thời gian tạo gel lâu nhất, chính thời gian tạo gel lâu này đã tạo điều kiện cho phản ứng giữa thủy tinh lỏng và NH4Cl diễn ra nhiều hơn làm cho lượng Na tồn tại trong các hạt natri silicát ít hơn ở màng chất dính thủy tinh lỏng mô đun cao. Kết quả phân tích EDS đã chỉ ra thủy tinh lỏng mô đun bằng 3 có tỷ lệ SiO2/Na2O ở các hạt natri silicát cao nhất và thủy tinh lỏng mô đun bằng 5 có tỷ lệ SiO2/Na2O thấp nhất như được trình bày ở bảng 3.
Bảng 2. Thời gian tao gel của chất dính thủy tinh lỏng phụ thuộc vào mô đun thủy tinh lỏng
| Mô đun thủy tinh lỏng | 3,0 | 4,0 | 5,0 |
| Thời gian tạo gel (phút) | 134 | 65 | 42 |
| Mô đun 3 | Mô đun 4 | Mô đun 5 | |
| Na2O | 3,95 | 5,0 | 6,3 |
| SiO2 | 14,1 | 14,3 | 12,5 |
| SiO2/Na2O | 3,6 | 2,9 | 2,0 |
- Đỗ Văn Quảng, Đào Hồng Bách, Đinh Quảng Năng và Nguyễn Đặng Thủy; Ảnh hưởng của mô đun thủy tinh lỏng và nhiệt độ thiêu kết tới tính chất của khuôn vỏ gốm. Tạp chí Khoa học & Công nghệ Kim loại, 35 (2011) Tr.36-39
- Đỗ Văn Quảng, Đào Hồng Bách và Đinh Quảng Năng; Ảnh hưởng của nước rỉ đường và hàm lượng chất dính thủy tinh lỏng tới các tính chất của khuôn gốm. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Kim loại, số 38, (10/2011) Tr. 38 - 41
- Đỗ Văn Quảng, Đào Hồng Bách và Đinh Quảng Năng; The determination of thermal diffusivity and heat con- duction of the ceramic casting molds using computer Proceeding of the 11th Asian Foundry Congress, Quảng Châu, Trung Quốc, 12 - 15/11, 2011.
- Đỗ Văn Quảng, Đào Hồng Bách và Đinh Quảng Năng; The effect of density of sodium silicate and ratio of ZrSiO4/SiO2 sand on properties of ceramic casting Proceeding of the 4th AUN-SEED Net Regional Conference on Materials, Hà Nội, Việt Nam, 08 - 09/12, 2011.
- Đỗ Văn Quảng, Đào Hồng Bách và Đinh Quảng Năng; Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng nước mật mía tới các tính chất của khuôn gốm. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Kim loại, số 44, (10/2012) 47 - 51.
- Owusu, A; Physical - Chemical Study of Sodium Silicate as a Foundry Sand Binder. Advances in Colloid and Interface Science, Vol. 18 (1982), pp. 57-91
.jpg)
.jpg)